Ưu điểm dễ thấy nhất của
phong điện là không tiêu tốn nhiên liệu, không gây ô nhiễm môi trường như các
nhà máy nhiệt điện, dễ chọn địa điểm và tiết kiệm đất xây dựng, khác hẳn với các
nhà máy thủy điện chỉ có thể xây dựng gần ḍng nước mạnh với những điều kiện đặc
biệt và cần diện tích rất lớn cho hồ chứa nước.Các trạm phong điện có thể đặt
gần nơi tiêu thụ điện, như vậy sẽ tránh được chi phí cho việc xây dựng đường dây
tải điện.
Vài
nét về các máy phát phong điện
Các
máy phát điện lợi dụng sức gió (dưới đây gọi tắt là trạm phong điện) đă
được sử dụng nhiều ở các nước châu Âu, Mỹ và các nước công nghiệp phát triển
khác. Nước Đức đang dẫn đầu thế giới về công nghệ phong điện.
Tới nay hầu hết
vẫn là các trạm phong điện trục ngang, gồm một máy phát điện có trục
quay nằm ngang, với rotor (phần quay) ở giữa, liên hệ với một tua bin 3 cánh đón
gió. Máy phát điện được đặt trên một tháp cao h́nh côn. Trạm phát điện kiểu này
mang dáng dấp những cối xay gió ở châu Âu từ những thế kỷ trước, nhưng rất
thanh nhă và hiện đại.
Các trạm
phong điện trục đứng gồm một máy phát điện có trục quay thẳng đứng, rotor
nằm ngoài được nối với các cánh đón gió đặt thẳng đứng. Trạm phong điện trục
đứng có thể hoạt động b́nh đẳng với mọi hướng gió nên hiệu qủa cao hơn, lại có
cấu tạo đơn giản, các bộ phận đều có kích thước không quá lớn nên vận chuyển và
lắp ráp dễ dàng, độ bền cao, duy tu bảo dưỡng đơn giản. Loại này mới xuất hiện
từ vài năm gần đây nhưng đă được nhiều nơi sử dụng.
Hiện có các
loại máy phát phong điện với công suất rất khác nhau, từ 1 kW tới hàng chục ngàn
kW. Các trạm phong điện có thể hoạt động độc lập hoặc cũng có thể nối với mạng
điện quốc gia. Các trạm độc lập cần có một bộ nạp, bộ ắc-quy và bộ đổi điện. Khi
dùng không hết, điện được tích trữ vào ắc-quy. Khi không có gió sẽ sử dụng điện
phát ra từ ắc-quy. Các trạm nối với mạng điện quốc gia th́ không cần bộ nạp và
ắc-quy.
Các trạm phong
điện có thể phát điện khi tốc độ gió từ 3 m/s (11 km/h), và tự ngừng phát điện
khi tốc độ gió vượt quá 25 m/s (90 km/h). Tốc độ gió hiệu qủa từ 10 m/s tới 17
m/s, tùy theo từng thiết bị phong điện.
Những ưu điểm của phong điện.
Ưu điểm dễ thấy
nhất của phong điện là không tiêu tốn nhiên liệu, không gây ô nhiễm môi trường
như các nhà máy nhiệt điện, dễ chọn địa điểm và tiết kiệm đất xây dựng, khác hẳn
với các nhà máy thủy điện chỉ có thể xây dựng gần ḍng nước mạnh với những điều
kiện đặc biệt và cần diện tích rất lớn cho hồ chứa nước.
Các trạm
phong điện có thể đặt gần nơi tiêu thụ điện, như vậy sẽ tránh được chi phí
cho việc xây dựng đường dây tải điện.
Trước đây, khi
công nghệ phong điện c̣n ít được ứng dụng, việc xây dựng một trạm phong điện rất
tốn kém, chi phí cho thiết bị và xây lắp đều rất đắt nên chỉ được áp dụng trong
một số trường hợp thật cần thiết. Ngày nay phong điện đă trở nên rất phổ biến,
thiết bị được sản xuất hàng loạt, công nghệ lắp ráp đă hoàn thiện nên chi phí
cho việc hoàn thành một trạm phong điện hiện nay chỉ bằng ¼ so với năm 1986.
Phong điện đă
trở thành một trong những giải pháp năng lượng quan trọng ở nhiều nước, và cũng
rất phù hợp với điều kiện Việt nam.
Các trạm phong điện có thể đặt ở
đâu ?
Trạm phong điện có thể đặt ở những địa điểm
và vị trí khác nhau, với những giải pháp rất linh hoạt và phong phú:
Các trạm phong
điện đặt ở ven biển cho sản lượng cao hơn các trạm nội địa v́ bờ biển thường có
gió mạnh. Giải pháp này tiết kiệm đất xây dựng, đồng thời việc vận chuyển các
cấu kiện lớn trên biển cũng thuận lợi hơn trên bộ. Giải bờ biển Việt Nam trên
3000 km có thể tạo ra công suất hàng tỷ kW phong điện.
Những mỏm núi,
những đồi hoang không sử dụng được cho công nghiệp, nông nghiệp cũng có thể đặt
được trạm phong điện. Trường hợp này không cần làm trụ đỡ cao, tiết kiệm đáng kể
chi phí xây dựng.
Trên mái nhà
cao tầng cũng có thể đặt trạm phong điện, dùng cho các nhu cầu trong nhà và
cung cấp điện cho thành phố khi không dùng hết điện. Trạm điện này càng có ư
nghĩa thiết thực khi thành phố bất ngờ bị mất điện.
Ngay tại các
khu chế xuất cũng có thể đặt các trạm phong điện. Nếu tận dụng không gian phía
trên các nhà xưởng để đặt các trạm phong điện th́ sẽ giảm tới mức thấp nhất diện
tích đất xây dựng và chi phí làm đường dây điện.
Điện khí hóa
ngành đường sắt là xu hướng tất yếu của các nước công nghiệp. Chỉ cần đặt với
khoảng cách 10 km một trạm 4800kW dọc các tuyến đường sắt đă có đủ điện năng cho
tất cả các đoàn tàu ở Việt nam hiện nay. Các vùng phong điện lớn đặt gần tuyến
đường sắt cũng rất thuận tiện trong việc vận chuyển và dựng lắp. Các đầu máy
diesel và than đá tiêu thụ lượng nhiên liệu rất lớn và gây ô nhiễm môi trường sẽ
được thay thế bằng đầu máy điện trong tương lai.
Đặt một trạm
phong điện bên cạnh các trạm bơm thủy lợi ở xa lưới điện quốc gia sẽ tránh được
việc xây dựng đường dây tải điện với chi phí lớn gấp nhiều lần chi phí xây dựng
một trạm phong điện. Việc bảo quản một trạm phong điện cũng đơn giản hơn việc
bảo vệ đường dây tải điện rất nhiều.
Nhà máy nước
ngọt đặt cạnh những trạm phong điện là mô h́nh tối ưu để giải quyết việc cung
cấp nước ngọt cho vùng đồng bằng sông Cửu Long, tiết kiệm nhiên liệu và đường
dây điện.
Một trạm phong
điện 4 kW có thể đủ điện cho một trạm kiểm lâm trong rừng sâu hoặc một ngọn hải
đăng xa đất liền. Một trạm 10 kW đủ cho một đồn biên pḥng trên núi cao, hoặc
một đơn vị hải quân nơi đảo xa. Một trạm 40 kW có thể đủ cho một xă vùng cao,
một đoàn thăm ḍ địa chất hay một khách sạn du lịch biệt lập, nơi đường dây chưa
thể vươn tới được. Một nông trường cà phê hay cao su trên cao nguyên có thể xây
dựng trạm phong điện hàng trăm hoặc hàng ngàn kW, vừa phục vụ đời sống công
nhân, vừa cung cấp nước tưới và dùng cho xưởng chế biến sản phẩm....
Không phải nơi
nào đặt trạm phong điện cũng có hiệu quả như nhau. Để có sản lượng điện cao cần
t́m đến những nơi có nhiều gió. Các vùng đất nhô ra biển và các thung lũng sông
thường là những nơi có lượng gió lớn. Một vách núi cao có thể là vật cản gió
nhưng cũng có thể lại tạo ra một nguồn gió mạnh thường xuyên, rất có lợi cho
việc khai thác phong điện. Khi chọn địa điểm đặt trạm có thể dựa vào các số liệu
thống kê của cơ quan khí tượng hoặc kinh nghiệm của nhân đân địa phương, nhưng
chỉ là căn cứ sơ bộ. Lượng gió mỗi nơi c̣n thay đổi theo từng địa h́nh cụ thể và
từng thời gian. Tại nơi dự định dựng trạm phong điện cần đặt các thiết bị đo gió
và ghi lại tổng lượng gió hàng năm, từ đó tính ra sản lượng điện có thể khai
thác, tuơng ứng với từng thiết bị phong điện. Việc này càng quan trọng hơn khi
xây dựng các trạm công suất lớn hoặc các vùng phong điện tập trung.
Gió là dạng
năng lượng vô h́nh và mang tính ngẫu nhiên rất cao nên khi đầu tư vào lĩnh vực
này cần có các số liệu thống kê đủ tin cậy. Rào cản chủ yếu đối với việc phát
triển phong điện ở Việt nam chính là sự thiếu thông tin về năng lượng gió.
Tới nay đă có
một số công ty nước ngoài đến Việt nam t́m cách khai thác phong điện, nhưng v́
chưa đủ những số liệu cần thiết nên cũng chưa có sự đầu tư nào đáng kể vào thị
trường này. Một hăng Đức đă xây dựng tại Ấn độ hàng ngàn trạm phong điện, có cơ
sở thường trực giám sát hoạt động các trạm qua hệ thống vệ tinh viễn thông, xử
lư kỹ thuật ngay khi cần thiết, và hoàn toàn hài ḷng về kết quả đă thu được ở
Ấn độ. Hăng này cũng đă đến Việt Nam t́m thị trường nhưng chưa quyết định đầu
tư, v́ chưa có đủ cứ liệu để xây dựng trên quy mô lớn, c̣n với quy mô nhỏ th́
lợi tức không đủ bù lại chi phí cho một cơ sở kỹ thuật thường trực. Một công ty
khác chuẩn bị xây dựng 12 trạm phong điện với công suất 3000 kW trên huyện đảo
Lư Sơn đă khẳng định công nghệ phong điện rất phù hợp với Việt Nam!
Tính
kinh tế của phong điện
Chi phí để xây
dựng một trạm phong điện gồm :
-
Chi phí cho
máy phát điện và các cánh đón gió chiếm phần chủ yếu. Có nhiều hăng sản xuất
các thiết bị này, nhưng với giá bán và chất lượng kỹ thuật rất khác nhau.
-
Chi phí cho
bộ ổn áp và ḥa mạng, tự động đưa ḍng điện về điện áp và tần suất
với mạng điện quốc gia.
-
Chi phí cho
ắc-quy, bộ nạp và thiết bị đổi điện từ ắc-quy trở lại điện xoay chiều. Các
bộ phận này chỉ cần cho các trạm hoạt động độc lập.
-
Chi phí cho phần tháp hoặc trụ đỡ tùy
thuộc chiều cao trụ, trọng lượng thiết bị và các điều kiện địa chất công
tŕnh. Phần tháp có thể sản xuất tại Việt Nam để giảm chi phí. Với các trạm
phong điện đặt trên nóc nhà cao (H.7) th́ chi phí này hầu như không đáng kể.
-
Chi phí cho
việc vận chuyển tới nơi xây dựng và công việc lắp đặt trạm.
Chi phí này ở Việt Nam rẻ hơn rất
nhiều so với các nước khác, đặc biệt nếu xây dựng ở vùng ven biển, ven sông
hoặc dọc theo các tuyến đường sắt.
1)
So sánh chi phí đầu tư giữa phong điện và thủy điện
Toàn bộ chi phí
cho một trạm phong điện 4800 kW khoảng 3 000 000 Euro.
Với 500 trạm
phong điện loại 4800 kW sẽ có công suất 2,4 triệu kW, bằng
công suất nhà
máy thủy điện Sơn La , tổng chi phí sẽ là :
500
x 3 000 000 € = 1,50 tỷ Euro
= 1,875 tỷ USD,
chi phí này nhỏ
hơn 2,4 tỷ USD, là dự toán xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La.
2)
Giá thành mỗi kWh
Giá thành
một kWh điện trong 10 năm đầu
có thể tính như sau
Sản lượng điện
của trạm trong 1 năm là : 4800kW x 2200
giờ = 10 560 000 kWh
(ở đây tính
trạm chỉ đủ gió để hoạt động 2200 giờ - khoảng ¼ thời gian một năm)
Một trạm 4800
kW trong 10 năm có sản lượng điện là 105 600 000 kWh
Chi phí để xây
dựng trạm là 3 000 000 €
Chi phí duy tu
bảo dưỡng trong 10 năm là : 240 000 €
Toàn
bộ chi phí trong 10 năm đầu là 3 240
000 €
Chi phí cho 1
kWh là :
3
240 000 : 105 600
000 = 0,031 €
Tính ra tiền
Việt Nam với tỷ giá 20 000 Đồng / 1 € :
0,031
x 20 000 = 620 đồng /
kWh
Giá
thành 1 kWh điện trong 10 năm tiếp theo:
10 năm tiếp
theo chỉ phải chi cho việc duy tu bảo dưỡng, giá thành sẽ là :
240 000
€ : 105 600 000 kWh = 0,0023 € / 1 kWh
Tính ra tiền
Việt Nam : 0,0023 x 20 000 = 46 đồng / 1 kWh
Không
công nghệ nào cung cấp điện giá rẻ như phong điện.
3)
Sau bao lâu th́ thu hồi được vốn đầu tư ?
Tính với giá
điện b́nh quân ở Việt Nam hiện nay là 1200 đồng / 1 kWh
tương đương
0,06 €) sau 5 năm, sản lượng điện của trạm có trị giá là :
5 x 10 560
000 x 0,06 = 3 168 000 €
Giá trị sản
lượng này tương đương chi phí xây dựng 1 trạm 4800 kWh cùng với chi phí bảo
dưỡng máy trong 5 năm. Như vậy chỉ cần 5 năm đă thu hồi toàn bộ vốn đầu tư xây
dựng trạm phong điện. Sau khi đă thu hồi đủ vốn, chi phí hàng năm chỉ c̣n rất
nhỏ so với lợi tức do trạm phong điện mang lại.
Thời gian thu
hồi vốn c̣n phụ thuộc các yếu tố khác liên quan tới sản lượng điện thực tế của
trạm. Trên đây tính với trạm hoạt động 2200 giờ/năm. Nếu trạm chỉ hoạt động 1100
giờ/năm hoặc ít hơn th́ phải trên 10 năm mới thu hồi đủ vốn. Sản lượng của trạm
phong điện phụ thuộc vào lượng gió tại địa điểm đặt trạm và tính năng thiết bị.
Máy phát phong điện của các nhà sản xuất khác nhau có thể cùng công suất danh
định như nhau nhưng sản lượng điện rất khác nhau.
Kinh
phí, nhân lực và thời gian cho việc xây dựng phong điện
Nhiệt điện
và thủy điện thường được phát đi từ những nhà máy có
công suất lớn, cần có sự đầu tư, xây dựng và quản lư của ngành điện lực Nhà
nước.
Các trạm
phong điện có vốn đầu tư nhỏ hơn nhiều, dù xây dựng đơn chiếc hay hàng
loạt. Một địa phương, một nhà đầu tư, một doanh nghiệp hoặc cá nhân cũng có thể
sở hữu được một hoăc một số trạm phong điện, tùy theo nhu cầu và khả năng tài
chính của ḿnh. Có thể phát động một phong trào toàn dân làm phong điện.
Khi đó chủ trương điện lực đi trước một bước sẽ trở thành hiện thực.
Có thể thực
hiện phong trào toàn dân làm phong điện theo những cách như sau
:
1)Nhà
nước cho phép các địa phương, các ngành, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp hoặc
cá nhân được quyền xây dựng và sở hữu một số trạm phong điện, tùy theo nhu cầu
và khả năng tài chính của ḿnh. Chủ sở hữu được quyền sử dụng sản lượng điện sản
xuất ra hoặc bán cho ngành điện lực qua lưới điện quốc gia. Hiện đang c̣n một
khoảng cách lớn giữa cung và cầu về điện năng ở nước ta. Khu vực điện lực do tư
nhân sở hữu chỉ góp phần rút ngắn khoảng cách này, nhưng không thể trở thành
nhân tố cạnh tranh với ngành điện Nhà nước. Hơn nữa thông qua việc thu mua điện
của các trạm phong điện tư nhân và phân phối lại qua mạng điện quốc gia, ngành
điện Nhà nước c̣n thu được một khoản kinh phí đáng kể.
2)Ngành
điện vận động các nhà đầu tư, các doanh nghiệp hoặc cá nhân đóng trước từ 1 tới
5 năm tiền điện, và cam kết sau này người đóng tiền trước sẽ được giảm giá điện
theo một tỷ lệ đáng kể, trong một thời gian tùy theo số tiền đóng trước. Đây là
một cách huy động vốn để xây dựng phong điện. Chỉ cần số tiền điện 5 năm đă huy
động được, có thể đủ kinh phí để xây dựng số trạm phong điện có sản lượng tương
ứng với nhu cầu của người ứng tiền. Việc cam kết giảm giá điện sẽ làm cho các
doanh nghiệp yên tâm khi ứng tiền trước, trong t́nh h́nh giá dầu khí và các loại
nhiên liệu tăng liên tục từ nhiều năm nay. Sau khi xây dựng xong, ngành điện có
thể bán trạm phong điện để có vốn làm các trạm khác.
3)Việc
xây dưng các trung tâm phong điện lớn với h́nh thức công ty cổ phần, bán cổ
phiếu chứng khoán... chắc chắn sẽ được hưởng ứng mạnh mẽ khi mọi người thấy được
hiệu quả rất cao của việc đầu tư vào phong điện.
Một đội xây lắp
từ 30 người có thể cất dựng được một trạm phong điện trục ngang, từ 5 người có
thể hoàn thành một trạm phong điện trục đứng. Việc kiểm tra các thông số kỹ
thuật và bảo dưỡng cần thực hiện định kỳ, với trạm phong điện trục ngang mỗi
tháng một lần, với trạm trục đứng chỉ cần mỗi năm một lần. Không ngành
sản xuất nào cần ít nhân công như phong điện. Tuy nhiên việc xây dựng
hàng loạt trạm phong điện trên cả nước sẽ tạo thêm việc làm cho hàng trăm ngàn
lao động.
Toàn bộ việc
lắp dựng một trạm phong điện trục đứng 40 kW có thể hoàn thành trong 3 ngày, kể
từ khi làm móng, dựng cột, lắp máy tới khi nghiệm thu và đưa vào hoạt động. Việc
thi công các trạm phong điện trục ngang cần từ 15 tới 45 ngày, tùy theo loại
trạm phong điện, chiều cao tháp và các điều kiện địa h́nh, địa chất, thủy văn
nơi xây dựng. Không nhà máy điện nào có thể xây dựng nhanh như phong
điện.
Để xây dựng một
nhà máy thủy điện cần có sự chuẩn bị rất lâu từ trước. Riêng các việc điều tra,
quy hoạch, chọn phương án... có thể kéo dài hàng chục năm. Đối với phong điện
cũng cần thực hiện những bước này, nhưng nhanh hơn. Sau một thời gian sử dụng,
nếu cần có thể rời trạm tới nơi khác. Nếu là trạm phong điện công suất nhỏ th́
việc di chuyển càng không mấy khó khăn.
Sau khi gia
nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đứng trước những thử thách lớn. Để vượt qua được những thử thách đó cần có một nền công nghiệp điện năng phát triển. Xây dựng
phong điện là một giải pháp hiện thực, có hiệu quả cao, có thể nhanh chóng đáp
ứng nhu cầu điện năng của cả nước.
Phong điện c̣n
có thể phát huy tác dụng to lớn trong sự nghiệp tăng cường an ninh quốc pḥng,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các vùng sâu, vùng xa, công
cuộc xóa đói giảm nghèo, và tạo thêm việc làm cho hàng triệu người lao động ở
mọi nơi, trong mọi lĩnh vực hoạt động của đất nước.
Phong
điện thực sự là môt kho báu vô tận ngay trước
mắt. Tiền vốn là ch́a khóa kho báu đă nằm trong tay các doanh nhân.
Kho báu đang chờ người mở !
|